Việc chuyển đổi báo cáo tài chính từ Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) sang Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh hội nhập. Quá trình này đòi hỏi doanh nghiệp tuân thủ một lộ trình bài bản từ khảo sát khoảng cách, lựa chọn chính sách kế toán, nâng cấp hệ thống đến lập số dư mở đầu và vận hành chính thức. Bên cạnh cơ hội nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh thông tin tài chính, doanh nghiệp cũng cần lưu ý những thách thức về đo lường giá trị hợp lý, phân loại công cụ tài chính, thuế hoãn lại và khối lượng thuyết minh gia tăng.
1. Các bước chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS

1.1 Xác định năm chuyển đổi đầu tiên
Bước đầu tiên trong quá trình chuyển đổi BCTC là doanh nghiệp cần xác định năm bắt đầu chuyển đổi. IFRS 1 – Lần đầu áp dụng IFRS yêu cầu trình bày thông tin so sánh cho BCTC chuyển đổi lần đầu tiên.
Ví dụ, năm bắt đầu chuyển đổi của doanh nghiệp là 2026, BCTC được lập lần đầu theo IFRS là BCTC năm 2026. Ngày chuyển đổi sang áp dụng IFRS của doanh nghiệp là 01/01/2025. Như vậy, doanh nghiệp phải chuẩn bị dữ liệu trước ít nhất một năm kể từ năm bắt đầu trình bày BCTC theo IFRS. BCTC được lập lần đầu theo IFRS của doanh nghiệp phải bao gồm:
- 3 Báo cáo tình hình tài chính (tại thời điểm 01/01/2025, 31/12/2025 và 31/12/2026)
- 2 Báo cáo thu nhập toàn diện (năm 2025 và 2026)
- 2 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (năm 2025 và 2026)
- 2 Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu (năm 2025 và 2026)
- Các thuyết minh liên quan bao gồm thông tin so sánh cho tất cả các báo cáo
1.2 Xác định các khoản mục BCTC có sự khác biệt
Đây là bước phức tạp nhất trong quá trình chuyển đổi. Kế toán viên cần có một nền tảng kiến thức vững chắc cả về VAS và IFRS để có thể xác định được các giao dịch có sự khác biệt khi ghi nhận theo hai hệ thống chuẩn mực này.
Phương pháp tiếp cận tốt nhất có lẽ là doanh nghiệp sẽ rà soát từng khoản mục trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh lập theo VAS. Hoặc một cách chi tiết hơn là kiểm tra từng khoản mục trên Bảng cân đối thử. Các khác biệt lớn thường liên quan đến các khoản mục như tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình và vô hình, thuê tài sản và doanh thu.
Doanh nghiệp nên tham khảo IFRS 1 – Lần đầu áp dụng IFRS để có thêm thông tin về các quy tắc và yêu cầu cơ bản đối với việc ghi nhận tài sản và nợ phải trả, việc phân loại lại, cách đo lường cũng như các ngoại lệ và miễn trừ khi tiến hành chuyển đổi BCTC.
1.3 Chuẩn bị thông tin cho các điều chỉnh IFRS liên quan đến mỗi sự khác biệt
Sau khi xác định được tất cả các khoản mục có sự khác biệt, doanh nghiệp sẽ thu thập số liệu để điều chỉnh qua 2 bước sau:
– Bước 1: Thu thập tất cả các bút toán đã ghi nhận theo VAS liên quan đến khoản mục có sự khác biệt với IFRS từ thời điểm ban đầu đến ngày báo cáo. Không cần thiết phải thu thập tất cả các bút toán đơn lẻ vì việc này có thể không khả thi và mất nhiều thời gian nhưng ít nhất cần tính được tổng giá trị đã được ghi nhận theo các khoản mục tại ngày báo cáo.
– Bước 2: Xác định các giao dịch này sẽ được ghi nhận như thế nào nếu hạch toán theo IFRS và tính tổng giá trị các giao dịch phải điều chỉnh cho từng khoản mục trên BCTC lập theo IFRS.
1.4 Chuẩn bị bảng tổng hợp các điều chỉnh
Chuẩn bị một file excel tổng hợp tất cả các bút toán điều chỉnh bao gồm: các bút toán đảo ngược các bút toán đã ghi nhận theo VAS và các bút toán mới ghi nhận lại các giao dịch theo IFRS.
Có 2 điều cần lưu ý:
1. Các bút toán đảo ngược các bút toán đã ghi nhận theo VAS nghĩa là các bút toán ghi ngược lại các bút toán gốc. Ví dụ, đối với thuê hoạt động, bút toán gốc theo VAS là Nợ Chi phí thuê hoạt động/ Có Phải trả người bán thì bút toán đảo ngược sẽ là Nợ Phải trả người bán/ Có Chi phí thuê hoạt động.
2. Các bút toán ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các kỳ trước đã được kết chuyển vào số dư Lợi nhuận chưa phân phối của kỳ hiện tại. Chúng ta không thể ghi nhận và đảo ngược các bút toán này vào Báo cáo thu nhập toàn diện của kỳ hiện tại. Do đó, các bút toán điều chỉnh liên quan đến Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các kỳ trước sẽ được điều chỉnh vào Lợi nhuận chưa phân phối của kỳ chuyển đổi.
Theo ví dụ trên thì bút toán đảo ngược sẽ là Nợ Phải trả người bán/Có Lợi nhuận chưa phân phối.
Sau khi ghi nhận tất cả các bút toán điều chỉnh vào bảng tổng hợp, kế toán viên sẽ tính số dư theo IFRS bằng cách cộng số dư theo VAS và tổng tất cả các khoản điều chỉnh nói trên. Như vậy, chúng ta đã có Bảng cân đối thử theo IFRS và đã có thể lập các BCTC theo IFRS.
1.5 Lập BCTC theo IFRS
Sau khi có Bảng cân đối thử theo IFRS, kế toán viên có thể lập được bộ BCTC theo IFRS với các lưu ý như:
– Báo cáo tình hình tài chính: Yêu cầu trình bày tách biệt các khoản ngắn hạn và dài hạn, sắp xếp theo tính thanh khoản tăng dần. Doanh nghiệp có thể phải phân loại lại hoặc tách/ gộp một số tài khoản đang ghi nhận dưới khoản mục này theo VAS nhưng lại được trình bày dưới khoản mục khác theo IFRS.
Ví dụ, theo IFRS, Tài sản sinh học được trình bày thành một khoản mục riêng nhưng theo VAS khoản mục này đang được ghi nhận trong TSCĐ hoặc Hàng tồn kho.
– Báo cáo thu nhập toàn diện: IAS 1 – Trình bày BCTC yêu cầu trình bày tách biệt hai phần Báo cáo lãi hoặc lỗ từ hoạt động kinh doanh và Báo cáo thu nhập toàn diện khác. Trong đó, các khoản trình bày trong Báo cáo thu nhập toàn diện khác gồm các khoản như thặng dư từ việc đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi BCTC. Doanh thu trình bày là doanh thu thuần đã bao gồm các khoản giảm trừ.
– Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Trình bày thấu chi ngân hàng như một phần của Tiền và các khoản tương đương tiền. Dòng tiền từ các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi được phân loại là dòng tiền từ hoạt động đầu tư. Ngoài ra, việc thay đổi nợ phải trả từ các hoạt động tài chính cần được trình bày tách biệt với các tài sản và nợ phải trả khác.
– Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu: Được lập thành một báo cáo riêng.
– Thuyết minh BCTC: Cần cung cấp các thông tin để người sử dụng BCTC có thể đánh giá được mục tiêu, chính sách và quy trình quản lý vốn.
2. Một số lưu ý về việc chuyển đổi các khoản mục quan trọng trên BCTC

2.1 Tài sản cố định hữu hình
– IAS 16 không quy định về giá trị tối thiểu của TSCĐ như VAS 03 là 30 triệu đồng. Vì vậy khi chuyển đổi sang IFRS, BCTC sẽ ghi nhận một khoản tăng lên số dư TSCĐ được phân loại lại từ công cụ, dụng cụ theo VAS.
– Đối với các doanh nghiệp phải hoàn trả mặt bằng về trạng thái ban đầu sau khi tiến hành hoạt động kinh doanh, cần ước tính các chi phí hoàn nguyên để ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ.
– Theo VAS 04, đất hay quyền sử dụng đất đang được ghi nhận là TSCĐ vô hình. Tuy nhiên, theo IAS 16, chúng được ghi nhận là TSCĐ hữu hình. Vì vậy, doanh nghiệp cần phân loại lại tài sản này khi chuyển đổi.
– Doanh nghiệp có thể lựa chọn giữa Mô hình giá gốc và Mô hình đánh giá lại để đo lường sau ghi nhận ban đầu. Đối với các TSCĐ ghi nhận theo giá trị hợp lý (Fair value), cần có phương án để đo lường như sử dụng dịch vụ của các công ty định giá. Doanh nghiệp có thể lường trước được việc sẽ phải ghi nhận các khoản giảm giá trị đối với tài sản bị tổn thất.
2.2 Tài sản cố định vô hình
IAS 38 không quy định về giá trị tối thiểu của TSCĐ như VAS 04 là 30 triệu đồng. Vì vậy khi chuyển đổi sang IFRS, BCTC sẽ ghi nhận một khoản tăng lên giá trị đáng kể số dư TSCĐ vô hình đang được ghi nhận là công cụ dụng cụ theo VAS.
Như đã đề cập ở phần trên, doanh nghiệp cần phân loại lại đất hay quyền sử dụng đất từ TSCĐ vô hình sang TSCĐ hữu hình.
Tương tự như TSCĐ hữu hình, IAS 38 cho phép sử dụng Mô hình giá gốc và Mô hình đánh giá lại để đo lường sau khi nhận ban đầu. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải kiểm tra việc giảm giá trị của các TSCĐ vô hình có thời gian sử dụng vô hạn, lợi thế thương mại và các TSCĐ vô hình không sẵn sàng để sử dụng.
2.3 Tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính
IFRS 9 – Công cụ tài chính quy định về việc ghi nhận ban đầu, sau ghi nhận ban đầu, đo lường, phân loại và dừng ghi nhận đối với Tài sản tài chính và Nợ phải trả tài chính (gọi chung là Công cụ tài chính).
Công cụ tài chính được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý. Sau đó chúng được phân loại thành 2 nhóm: nhóm được ghi nhận theo giá trị phân bổ và nhóm được ghi nhận theo giá trị hợp lý. Việc phân loại dựa trên đặc điểm về mô hình kinh doanh của doanh nghiệp và bản chất của dòng tiền.
IFRS 1 cho phép doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng hồi tố IFRS 9 cho giai đoạn so sánh. Trong trường hợp lựa chọn áp dụng hồi tố, doanh nghiệp cần đánh giá phương pháp ghi nhận hiện tại đối với các Công cụ tài chính và thay đổi để phù hợp với IFRS 9.
2.4 Thuê tài sản
IFRS 16 – Thuê tài sản loại bỏ việc phân loại thuê hoạt động và thuê tài chính đối với bên đi thuê. Chuẩn mực yêu cầu ghi nhận Quyền sử dụng tài sản và Nợ thuê tài sản trên Báo cáo tình hình tài chính cùng với khấu hao tài sản và chi phí lãi suất tài chính đối với các khoản nợ thuê. Nghĩa vụ Nợ thuê tài sản được tính toán bằng cách chiết khấu về giá trị hiện tại các khoản thanh toán trong tương lai.
IFRS 16 cho phép doanh nghiệp miễn áp dụng nếu: hợp đồng cho thuê dưới 12 tháng và không có quyền chọn mua, hoặc tài sản thuê là tài sản có giá trị thấp.
IFRS 01 cho phép doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng IFRS 16 hồi tố hoặc không hồi tố cho giai đoạn so sánh khi lập BCTC lần đầu theo IFRS. Trong trường hợp lựa chọn áp dụng hồi tố, doanh nghiệp cần rà soát lại các hợp đồng thuê tài sản, đàm phán lại các điều khoản hợp đồng để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực lên các chỉ số tài chính có thể tác động đến các điều kiện của hợp đồng vay.
2.5 Doanh thu
IFRS 15 – Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng giới thiệu các quy tắc mới về việc ghi nhận doanh thu, trong đó có mô hình 5 bước. Doanh nghiệp cần xác định giá giao dịch riêng cho từng nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng và chỉ ghi nhận doanh thu khi nghĩa vụ đã được thực hiện.
Phòng kế toán cần kết hợp với phòng pháp chế, phòng kinh doanh để xem lại các điều khoản của các hợp đồng kinh tế và đảm bảo việc ghi nhận doanh thu tuân thủ theo các yêu cầu của IFRS 15.
3. Các yếu tố để chuyển đổi BCTC thành công

Việc chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS là một quá trình khá phức tạp và tốn nhiều thời gian, nguồn lực. Tuy nhiên, lợi ích mà nó có thể đem lại cho các doanh nghiệp là không hề nhỏ. Doanh nghiệp cần có một kế hoạch định hướng rõ rang:
– Xây dựng lộ trình chuyển đổi rõ ràng, bao gồm các giai đoạn: xác định phạm vi công việc, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết, triển khai kế hoạch và giám sát quá trình.
– Có kế hoạch đào tạo bài bản, liên tục và lâu dài cho bộ phận kế toán và các bộ phận khác có liên quan như bộ phận kinh doanh, pháp chế, hoạch định chiến lược.
– Tổ chức bộ máy kế toán với các nhân sự chuyên trách về IFRS từ công ty mẹ đến các công ty con.
– Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu xuyên suốt các nguồn lực của doanh nghiệp, giúp đảm bảo việc cung cấp thông tin giữa bộ phận kế toán và các bộ phận khác, giữa công ty mẹ và các công ty con.
– Xây dựng một quy trình chuyển đổi BCTC phù hợp với đặc thù doanh nghiệp bao gồm trình tự các bước và hướng dẫn cụ thể.
KẾT:
Chuyển đổi báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS không chỉ đơn thuần là thay đổi cách ghi nhận và trình bày số liệu, mà còn là một quá trình tái cấu trúc toàn diện từ hệ thống kế toán, chính sách nội bộ đến tư duy quản trị tài chính. Để chuyển đổi thành công, doanh nghiệp cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhân sự, hệ thống công nghệ thông tin cũng như sự cam kết từ ban lãnh đạo. Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, việc áp dụng IFRS sẽ là nền tảng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, minh bạch hóa tài chính và tiếp cận hiệu quả hơn với thị trường vốn quốc tế. Đây là một bước đi chiến lược, đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc nhưng sẽ mang lại giá trị bền vững trong dài hạn.
Xem các nội dung khác
Các kênh khác của Kế toán AZ: Facebook | YouTube | Cộng đồng Kế toán