Người phụ thuộc là gì? Người phụ thuộc gồm những ai? Con, cha mẹ, vợ chồng và người thân nào được tính giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân? Đây là những nội dung người lao động và bộ phận kế toán, nhân sự cần xác định chính xác khi thực hiện giảm trừ gia cảnh từ ngày 01/7/2026.
Theo khoản 1 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cá nhân cư trú được trừ khoản giảm trừ gia cảnh vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công, trong đó có khoản giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc. Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc hiện là 6,2 triệu đồng/tháng theo quy định về giảm trừ gia cảnh áp dụng cho năm 2026.
1. Người phụ thuộc là gì?
Có thể hiểu, người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng và thuộc một trong các nhóm đối tượng được pháp luật xác định để tính giảm trừ gia cảnh.
Điểm quan trọng là không phải cứ có quan hệ gia đình với người nộp thuế thì mặc nhiên trở thành người phụ thuộc. Khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cụ thể từng nhóm người phụ thuộc và điều kiện tương ứng. Vì vậy, khi đăng ký người phụ thuộc cần xác định đúng nhóm đối tượng trước, sau đó mới kiểm tra các điều kiện về tuổi, khả năng lao động, thu nhập và nghĩa vụ nuôi dưỡng nếu pháp luật yêu cầu.
2. Người phụ thuộc gồm những ai?
Theo khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, người phụ thuộc được xác định theo 5 nhóm chính.
1. Con dưới 18 tuổi
Theo điểm a khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, con của người nộp thuế bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật, con riêng của vợ và con riêng của chồng nếu dưới 18 tuổi.
Đây là nhóm được xác định dựa trên quan hệ cha mẹ – con và độ tuổi. Vì vậy, khi con chưa đủ 18 tuổi, cần xác định đúng quan hệ theo quy định và có hồ sơ chứng minh tương ứng theo hướng dẫn về hồ sơ người phụ thuộc.

2. Con từ 18 tuổi trở lên nhưng không có khả năng lao động hoặc thuộc trường hợp đặc biệt
Theo điểm b khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, con từ 18 tuổi trở lên vẫn có thể là người phụ thuộc nếu là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật hoặc người không có khả năng lao động.
Riêng khái niệm “không có khả năng lao động” được quy định tại khoản 4 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP: người không có khả năng lao động là người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên theo quy định của pháp luật.
Như vậy, đối với người con đã thành niên, không thể chỉ căn cứ vào việc người con không có việc làm hoặc đang được cha mẹ nuôi dưỡng để kết luận là người phụ thuộc. Nếu xác định theo trường hợp không có khả năng lao động thì phải đáp ứng tiêu chí pháp luật quy định.
3. Con đang học
Theo điểm c khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề cũng thuộc nhóm có thể được xác định là người phụ thuộc.
Quy định này còn bao gồm con từ 18 tuổi trở lên đang học phổ thông, kể cả trường hợp đang trong thời gian chờ kết quả thi từ tháng 6 đến tháng 9 của năm lớp 12.
Tuy nhiên, nhóm này phải đáp ứng thêm điều kiện về thu nhập: không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
Theo Điều 3 Thông tư 87/2026/TT-BTC, mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập để xác định người phụ thuộc là không vượt quá 3 triệu đồng/tháng.
Điểm cần lưu ý là mức 3 triệu đồng được xét theo thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn, chứ không chỉ nhìn vào tiền lương hoặc một nguồn thu nhập riêng lẻ.
4. Vợ, chồng và cha mẹ
Theo điểm d khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, người phụ thuộc còn bao gồm vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi; cha vợ, mẹ vợ; cha chồng, mẹ chồng của người nộp thuế.
Tuy nhiên, cần phân biệt “thuộc nhóm đối tượng” với “đủ điều kiện để được giảm trừ”.
Việc một người là cha, mẹ, vợ hoặc chồng không đồng nghĩa người nộp thuế đương nhiên được giảm trừ. Nhóm này còn phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 3 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trong đó có điều kiện về khả năng lao động và thu nhập.

Cụ thể, nếu người phụ thuộc trong độ tuổi lao động, người đó phải đồng thời không có khả năng lao động và không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn không vượt quá mức quy định. Nếu người phụ thuộc ngoài độ tuổi lao động, phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm không vượt quá mức quy định.
5. Cá nhân khác không nơi nương tựa
Đây là nhóm có điều kiện đặc biệt và thường gây nhầm lẫn nhất.
Theo điểm đ khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, nhóm này gồm anh ruột, chị ruột, em ruột; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột; cháu ruột và người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, không phải cứ thuộc một trong các quan hệ trên là được tính người phụ thuộc.
Ngay trong điểm đ khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, pháp luật yêu cầu đây phải là “cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng”. Đồng thời, người phụ thuộc thuộc nhóm này phải đang sống cùng người nộp thuế và người nộp thuế phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo Điều 104, Điều 105, Điều 106 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật có liên quan.
Vì vậy, đây là nhóm cần được phân tích riêng, bởi điều kiện “đang sống cùng người nộp thuế” không phải điều kiện áp dụng cho tất cả người phụ thuộc, mà là điều kiện được quy định đối với nhóm cá nhân khác không nơi nương tựa.
3. Người phụ thuộc có bắt buộc phải sống cùng người nộp thuế không?
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi áp dụng quy định mới.
Điều kiện “đang sống cùng người nộp thuế” được quy định cụ thể tại điểm đ khoản 2 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP đối với nhóm cá nhân khác không nơi nương tựa.
Do đó, không thể suy rộng rằng từ ngày 01/7/2026 tất cả người phụ thuộc đều phải sống chung với người nộp thuế.
Ví dụ, việc cha mẹ ở riêng không đồng nghĩa cha mẹ đương nhiên không được tính là người phụ thuộc. Phải xác định cha mẹ thuộc nhóm nào và có đáp ứng các điều kiện tương ứng tại Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP hay không.
4. Người nộp thuế phải chịu trách nhiệm gì khi đăng ký người phụ thuộc?
Theo khoản 5 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, người nộp thuế tự đăng ký số lượng người phụ thuộc và cung cấp hồ sơ, tài liệu chứng minh theo quy định. Người nộp thuế chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc đăng ký và thông tin về người phụ thuộc.
Hồ sơ chứng minh được thực hiện theo Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC. Chẳng hạn, đối với trường hợp người phụ thuộc là người không có khả năng lao động, hồ sơ phải có thêm giấy tờ chứng minh tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.